Thứ Ba, 29 tháng 5, 2012

Báo Phú Yên, số chủ nhật vừa đăng bài Người lính trên chuyến tàu - Bùi Văn Thành


Sáng tác
28 Tháng Năm 2012 7:00 SA (GMT+0700)

Người lính trên chuyến tàu – truyện ngắn của BÙI VĂN THÀNH
Trên chuyến tàu SE8 từ Nam ra Bắc, tôi ngồi cạnh hai chị em người Ninh Bình. Chị 70 tuổi, hơn người em trai 3 tuổi. Hai chị em có khuôn mặt giống nhau như đúc. Rất khó để nhận ra họ là người lính thời chống Mỹ. Chỉ có qua câu chuyện sau gói xôi ăn sáng, tôi mới biết hai chị em đã trải qua những ngày tháng khốc liệt ở chiến trường Quảng Trị.

Ky-uc-chien-tranh120527.jpg
Ký ức chiến tranh - Tranh: LÊ ĐỨC THẮNG

Ngày ấy, người chị đang học năm cuối trường đại học Y, đứng đầu lớp nên được chọn đi Liên Xô; người em học lớp 10, cuối cấp 3 thời bấy giờ. Theo tiếng gọi của Tổ quốc, hai chị em lên đường vào Nam chiến đấu.

Cho đến bây giờ, chị cũng chưa lý giải vì sao hai chị em lên đường một lúc, nhà chỉ còn cha mẹ và đứa em út 14 tuổi. Chị phải uống nước và giấu đá vào người để đủ 40kg. Trước đó hai năm, người anh cả cũng đã lên đường và hy sinh một năm sáu tháng sau đó ở chiến trường Trà My tỉnh Quảng Nam. Từ ngày hai chị em lên đường, cả xã chị cũng không còn một thanh niên nào đào ngũ, phải đi làm lao động tập trung và phải hô câu: “Thanh niên như chúng tôi thì chỉ có mất nước, thanh niên như chúng tôi thì chỉ có mất nước, thanh niên như chúng tôi thì chỉ có mất nước...”.

Chị vừa dừng lời thì người người em trai xen vào: “Ác liệt lắm chú ạ. Không có từ ngữ nào diễn tả nổi đâu. Tôi cũng không hiểu vì sao chị em tôi còn sống được sau 81 ngày đêm ở thành cổ Quảng Trị”.

Tôi tò mò:

- Nhiệm vụ của anh lúc đó là gì?

Anh trả lời ngay:

- Tôi bơi giỏi từ nhỏ nên đơn vị giao làm nhiệm vụ truyền đạt mệnh lệnh vừa bằng giấy tờ vừa bằng miệng, vì nếu bơi qua con sông Thạch Hãn mà bị sự cố mất giấy tờ thì vẫn không sao bởi mệnh lệnh đã ở trong đầu.

Tôi quay sang chị. Như đoán được ý tôi, chị kể: Ngày ấy tôi làm quân y. Dường như không biết ngủ là gì anh ạ. Và đau nhất là không cứu được chiến sĩ vì máu không có, thuốc không đủ, trang thiết bị thô sơ quá…

Tôi lấy làm tiếc vì tàu chạy nhanh quá. Đến ga Ninh Bình rồi. Tiễn hai chị em xuống tàu, tôi mới nhận ra, cả hai đều gửi lại chiến trường miền Nam một cái chân.

* *
*

Tàu lăn bánh. Tôi lấy túi xách từ giường trên xuống tầng giường dưới mà trước đó tôi nhường thì gặp một đôi vợ chồng hơn chị em người thương binh tôi vừa tiễn khoảng bốn, năm tuổi. Ông vã mồ hôi, thở hổn hển vì ngoài hành lý của vợ, ông còn mang theo một ít đá để tạc tượng. Tôi lại phải leo lên giường trên, nhường giường dưới cho hai vợ chồng. Vợ chồng ông ở Vĩnh Phúc vào Ninh Bình thăm người em gái bị bệnh. Biết tôi là người đi dự trại sáng tác Tam Đảo, quê hương ông, thế là ông ngồi dựa vào vách toa tàu, kể cho tôi nghe một mạch, trong khi tàu cứ kịch… kịch… tiến về Hà Nội, và người vợ ngủ ngáy ngon lành. “Anh biết không, cuối năm 1967, tôi vào Phú Yên. Lúc ấy tôi mới 18 tuổi, vừa học xong lớp 10. Tôi cũng thuộc diện đi nước ngoài nhưng chiến trường đang vẫy gọi, làm sao mà tôi không đi chiến đấu được chứ. Qua thư từ người anh cả gửi về, tôi biết chiến trường ác liệt lắm nhưng tiếng hát át tiếng bom anh ạ”.

Nghe nói đến Phú Yên, tôi rạng rỡ hẳn lên “Vậy bác có tham gia trận đánh Mậu Thân không?”

“Đó là trận đánh thứ ba mà tôi tham gia trên đất Phú Yên. Chúng tôi đã chuẩn bị xong xuôi. Đúng 0 giờ, đêm giao thừa Mậu Thân, tất cả đồng loạt nổ súng đánh vào thị xã. Nhưng lực lượng mình mỏng quá, vũ khí chủ yếu là súng trường, nên trời hừng sáng vẫn chưa chiếm lĩnh trận địa. Địch từ các lô cốt kiên cố bắn ra. Đại đội tôi còn lại chín người nhưng bị thương hết bảy. Chúng tôi cố dìu nhau theo đường biển ra hướng Bắc để vào vùng an toàn. Nhưng ra đến Long Thủy thì kiệt sức. Rất may, nhờ bà con ở đó đưa đi giấu và băng bó các vết thương. Sau đó, chúng tôi mới được đưa đến vùng an toàn.

- Vậy bác có biết người băng bó và cõng các thương binh trong đêm đó là ai không?”

- Tôi không chắc lắm. Là một người dân biển ở đó, nước da ngăm đen, rắn chắc, tên Trân hay Trăng gì đó. Tôi và mấy anh em thương binh ngày ấy đã vào mấy lần hỏi thăm, tìm hiểu nhưng chính quyền nói không có ai tên đó cả.

- Có phải 7 người bị thương lúc đó được đưa lên nằm trên rầm một ngôi nhà mái lá không?

- Đúng rồi. Sao anh biết?

Ông bỗng ngồi thẳng dậy, chồm đến chỗ tôi.

- Lúc ấy, các anh thương binh ăn cháo cá thu do người đàn ông ấy nấu, đúng không bác?

- Đúng đấy. Đúng đấy. Sao anh biết rõ thế?

- Cháu là người sinh ra ở Long Thủy mà.

- Nhưng lúc ấy anh còn nhỏ cơ mà.

- Lúc ấy cháu chỉ mới 6 tuổi, còn ba cháu đã ngoài 30. Ba tên Trong. Ba kể rất tỉ mỉ cho cháu nghe, từ việc gặp các chú bộ đội ở đâu, máu chảy ra sao, ưu tiên cõng người nào trước, người nào sau và băng bó như thế nào, dù chưa hề qua lớp y tá. Còn má cháu rang gạo lấy nước cháo cho các thương binh uống để khỏi kiệt sức.

Ông chồm tới ôm lấy tôi giọng nghẹn đi:

- Vậy bố anh còn không? Bố anh còn không?

Thấy tôi không nói nên lời, ông như đoán biết được. Ông ngồi thừ ra.

- Ba cháu mất cách đây 3 năm. Sau lần giấu bộ đội đó, địch điều tra, bắt ba cháu. Chúng đánh đập rất dã man nhưng ba vẫn một mực không khai. Vì thế, chúng khó kết tội để đưa ba đi giam ở Côn Đảo. Rốt cuộc, ba bị giam bốn năm ở lao cải Phú Thất của tỉnh.

Nghe đến đây, ông giàn giụa nước mắt. “Thế là chúng tôi có lỗi với cụ nhà anh quá, có lỗi quá”.

Tôi nói: “Chiến tranh mà, bác có lỗi gì đâu”.

- Thế cụ nhà anh có được hưởng chế độ gì không?

- Dạ, ba cháu hưởng chính sách dành cho những người bị tù đày.

- Còn chính sách dành cho người nuôi giấu cán bộ thì sao?

- Ba cháu khai nhưng không có ai làm chứng. Thủ tục phiền quá nên ba bỏ cuộc. Nhưng mừng là anh em cháu đều có công ăn việc làm ổn định, trong sáu người thì có bốn người làm nhà nước.

- Đó là chuyện khác.

Vợ ông đã tỉnh giấc từ lúc nào, đang theo dõi câu chuyện của chúng tôi. Bà xen vào: “Còn ông ấy vào Nam năm 1967 đến năm 1968 thì bị thương, điều trị vừa tạm ổn lại tiếp tục ra chiến trường Quảng Trị ác liệt cho đến khi giải phóng miền Nam. Rồi ông ấy về địa phương làm bí thư, làm chủ tịch xã mười mấy năm, tổng cộng hai mấy năm trời nhưng chế độ có nhiều nhặn gì đâu”.

Ông ngắt lời bà: “Thời điểm lịch sử lúc ấy mà”. Rồi ông quay sang nói với tôi: “Còn sống là đại phúc anh ạ. Tôi đã chứng kiến hàng trăm chiến sĩ của mình ra đi mà đến giờ lòng vẫn còn đau nhói. Anh biết không, lúc ấy, tôi làm chế độ một lần, mua được một bê con để nuôi, sau đó chẳng may nó chết. Cũng may các cháu nhà tôi giờ thành đạt cả.

Ông cười khiến tôi cũng cười theo…

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét