Truyện ngắn: Nhựa đời
(Bùi Văn Thành)
Sau hiệp định Geneve, ngày mai ông Bi chuẩn bị lên thuyền tập kết ra Bắc thì ngay tối hôm ấy, theo lệnh của tổ chức, ông phải ở lại để hoạt động cách mạng. Ông Bi có ưu thế không những là cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có uy tín mà đặc biệt, ông có một thời gian làm công an xã trước khi làm Bí thư xã. Đoạn làm công an xã, ông nổi tiếng là người thông minh, đã có nhiều chiến công khiến kẻ thù khiếp sợ. Kẻ thù đã nhiều lần vây bắt ông nhưng không thành.
Buổi sáng hôm ấy, trời không êm ả như mọi hôm mà có gió đông Bắc khiến cho mặt nước nhấp nhô theo làn gió. Con thuyền đưa tiễn các người con miền Nam tập kết ra Bắc, ngược chiều với sóng gió khiến cho con thuyền nhô mũi lên rồi chụp xuống. Có người tiễn người thân đứng trên bờ, bàn tay vẫy vẫy nhưng khép lại chỉ còn một ngón, còn ông Bi thì vẫy đồng đội của mình khép lại còn hai ngón, bởi ông nghĩ rằng, chậm lắm là hai năm, theo Hiệp định thì sẽ tổng tuyển cử thống nhất Tổ quốc, đồng đội sẽ gặp lại.
Hiệp định Geneve kí chưa ráo mực thì kẻ thù đã ngang nhiên phá hoại Hiệp định, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta. Chính quyền Ngô Đình Diệm đã bộc lộ âm mưu chống Cộng một cách điên cuồng. Chúng đàn áp các cuộc biểu tình một cách dã man, và ngang nhiên tiến hành bắt bớ đến tận hang cùng ngõ hẻm để giết chóc cán bộ Cộng sản bằng các hình thức tra tấn man rợ như cho uống nước xà phòng, treo chân lên xà nhà, đập đầu vào tường cho chảy máu…
Trước tình hình ấy, ông Bi đã tổ chức nhân dân đấu tranh đòi địch thi hành hiệp định và đấu tranh chống lại chúng. Nhờ kinh nghiệm làm công an, ông Bi đã tổ chức đồng đội mình bắt gọn các tên phản động, gian ác nổi tiếng của vùng khiến kẻ thù khiếp vía không dám hung hăng, giết chóc đồng bào như trước đó nữa. Nhưng chính quyền tay sai bán nước Ngô Đình Diệm được đế quốc Mỹ hậu thuẫn lại có đầy đủ vũ khí, bạc tiền nên chúng rất hung hăng.
Mười tháng chưa về nhà, mặc dù hoạt ngay trên quê hương, nhớ vợ thì ít nhưng nhớ con thì nhiều. Ông Bi nhớ quay, nhớ quắt thằng con. Nhớ nhất là lúc chia tay lên đường tập kết, ông ôm con mà không cầm được nước mắt khi nghe con nói bập bẹ:
- Ba đi… chừng nào ba về…
- Một năm .. một năm… ba về với con…ông Bi nói trong tiếng nghẹn.
- Ba nhớ nghen…ba nhớ nghen, thằng bé nói cùng tiếng cười, vì thế mà ông Bi cũng nói rõ ràng hơn về lời hứa với con:
- Khi về, ba sẽ làm diều, đẽo dụ, làm thuyền mo nang cho con chơi…
Ông Bi sau khi triển khai xong cuộc họp, ông ghé về nhà thì bị bắt khi đang ôm con, kẻ thù đã phục mấy tháng nay. Chúng dùng con, vợ, mẹ già và người thân, rồi kể cả bạc tiền, ruộng đất hậu hĩnh nhưng không thuyết phục được ông. Chúng nhốt ông vào chuồng sắt dành cho những đối tượng nguy hiểm nhất. Lần lượt chúng dùng lời ngon ngọt, không thành. Chúng tra tấn đủ kiểu, cũng không thành. Kiểu cuối cùng, chúng dành cho ông là đóng đinh các đầu ngón tay, ông Bi vẫn kiên cường. Và biết không thể nào lay chuyển ông, ngay tối đêm rằm tháng bảy năm 1956 ấy, chúng chôn sống người chiến sĩ cách mạng một lòng kiên trung với Đảng tại động cát bên đường sắt song song với quốc lộ 1A
Còn vợ ông Bi, đã tham gia cùng với bà con trong đoàn biểu tình đòi thả tự do cho những chiến sĩ cách mạng thì bị kẻ thù bắn chết.
Thằng Bình, con ông Bi mới 5 tuổi đã mồ côi cả cha lẫn mẹ. Nó được Dì nó cưu mang cho vào thị xã Tuy Hòa để ăn học.
Mười năm trôi qua, thằng Bình đã học đến lớp 12. Nó đã học băng một năm hai lớp do rất thông minh. Sau vụ tham gia biểu tình, đốt phá Chi khu, chống chính quyền chế độ tay sai Việt Nam cộng hòa, thằng Bình nằm trong danh sách truy tìm của kẻ thù. Thế là một biểu chiều về quê, Thằng Bình bỏ chiếc xe đạp bên vệ đường và đi thẳng lên núi làm cách mạng.
Do trí thông minh và truyền thống gia đình, Bình được sự giới thiệu của người cùng quê và sự giúp đỡ của đồng đội, anh vào ban an ninh, lúc ấy vào năm 1966.
Gần mười năm chống Mỹ, hoạt động trong vùng địch chiếm đóng, Bình đã trưởng thành nhanh chóng. Anh đã chỉ huy nhiều trận đánh diệt nhiều quân địch. Đặc biệt, anh luôn luôn có những sáng kiến khiến kẻ thù mắc mưu, sập bẫy.Anh được báo cáo điễn hình tiên tiến cấp tỉnh 3 lần liên tục.
Bí thư huyện ủy Lành có người con gái tên Yên, rất đẹp, kém Bình 4 tuổi, tính nết dịu dàng theo cha làm cách mạng, thấy Bình thông minh, ông đã hứa gả con gái duy nhất của ông nhưng phải đợi đến ngày đất nước giải phóng mới được kết hôn.Tình yêu lí tưởng như liều thuốc thần giúp đôi trai tài gái sắc ấy, ngủ ít, làm nhiều, nảy sinh nhiều sáng kiến, dũng cảm hơn trong đánh giặc mong đến ngày giải phóng đất nước để có cuộc sống hạnh phúc gia đình.
Sáng ngày một, tháng tư, năm bảy lăm, quân ta giải phóng Phú Yên một cách dễ dàng. Nghe tiếng súng, địch tháo chạy bán sống bán chết, nhiều thằng sợ quá cởi áo quần, quân trang, còn quần đùi để thoát thân.
Yên, Bình cùng với đồng đội tiến vào thị xã Tuy Hòa, đến Sở chỉ huy bỏ trống của địch, còn một thằng địch tử thủ không chịu thoát thân đã bắn trúng tim người con gái, hiền dịu, kiên trung rồi bỏ chạy. Bình đã rượt theo bắn chết hắn, nhưng anh dậm phải mìn, bị thương.
Thể theo nguyện vọng, Bình được đồng đội đưa đến ngay chỗ người yêu đang cấp cứu. Khi Bình vừa đến, người con gái vừa thoát khỏi tuổi thành niên, kiên trung với Đảng, chung thủy với mối tình đầu đã trút hơi thở cuối cùng với câu nói ngập ngừng:
- Em yêu.. yêu… anh. Bàn tay Liên vẫn nắm chặt tay Bình.
Anh cố nén nước mắt nhưng trên gò má dòng lệ vẫn tuôn trào. Vết thương rất nặng, Cha Yên đã điều những bác sĩ quân y có kinh nghiệm nhất để cứu anh nhưng cũng phải cưa mất một bàn chân.
Bình không tiễn đưa được linh cữu người yêu về nơi an nghỉ cuối cùng.
Sau khi xuất viện, anh ở lại nhà ông Lành thực hiện tang chế như người chồng. Hai năm sau, Bình về quê.
Cuộc đời quân ngũ của Bình cũng chấm hết từ đấy. Anh về quê cha, ngôi nhà đã bị ca nông địch phá sập tan tành, nhờ bà con, che lại túp lều tranh.
Những tháng năm thời bao cấp, bằng tem phiếu một tháng 13 kilôgam gạo, nửa cân đường, 1 kilôgam thịt, vài thướt vải kakicốt, 2 lít dầu…. vài đồng lương …đã thôi thúc Bình phải làm giàu ngay trên quê mình. Làm cách mạng, đánh Mỹ còn được. Nay hòa bình lập lại mà đói nghèo là nỗi nhục. Đó là nỗi trăn trở của người chiến sĩ cách mạng khi không còn sức khỏe để phục vụ trong ngành công an. Và có một điều anh tin chắc rằng, công an tàn nhưng không phế.
Bình quyết định một mình một rựa, cùng gạo với mắm, muối lên núi dọn rừng trọc. Chưa đầy 5 tháng cùng với núi đồi, anh đã làm chủ được gần 10 ha. Từ đấy, anh mạnh dạn vay vốn, thuê hai thanh niên lực điền cùng với anh thực hiện phương châm lấy ngắn nuôi dài. Một hecta dành cho việc giải quyết tình huống bằng việc trồng ớt, chuối, rau, cà…, còn 9 hecta dành cho kế hoạch lâu dài. Tất cả những loại trái cây quý của mịệt vườn miền Nam được anh đưa vào thử nghiệm. Vườn xoài, vườn mít tố nữ, vườn sam bôchê, cam, chanh, bưởi… được trồng xen kẻ thẳng tắp, có một hecta trồng hoa mai. Song song với trồng cây, chăn nuôi, gà, bò được anh dành riêng 1 ha xung quanh bao bọc bởi gai móc mèo rất chắn chắn. Ba năm qua, phương châm lấy ngắn nuôi dài đã thành công. Đến năm thứ tư, thời tiết chẳng thương anh tí nào. Nắng hạn kéo dài, cây khô héo, đến cả bò cũng không có nước để uống. Cơ ngơi của anh đang tiến đến ngày phá sản, anh không còn đủ tiền để trả công cho người làm thuê. Nợ nần sản sinh.
Cuộc ấu đã xảy ra giữa anh và những người làm thuê.
- Anh giải quyết sao cho tiền công mấy tháng nay của anh em chúng tôi, những người làm thuê lên tiếng.
- Hay là anh giao bò cho chúng tôi, họ lại nói tiếp.
Bình chỉ còn biết van họ hoãn nợ:
- Các anh thông cảm. Chờ ít thời gian nữa, bán được bò, heo,gà tôi sẽ trả ngay.
- Vậy thì ông viết giấy hẹn ngày để trả nợ cho chúng tôi.
- Giấy hẹn đã gần đến ngày, nhưng bò heo bán không được vì cán bộ thị trường quản lí chặt quá. Chính sách bao cấp thời chiến áp dụng thời bình này lạc hậu quá. Muốn bán bò, heo mà phải viết đơn xin chính quyền nhưng đợi lâu mới được giải quyết. Anh cũng đành bán liều đàn heo nhưng không đủ trả nợ.
Đang trong cãi vả, đến mức sắp xô xát thì ông Lành đến thăm anh. Ông đã về hưu mấy ngày. Ông chẳng còn ai thân thích. Con hy sinh. Vợ bị bọn Đại Hàn hãm hại, rồi giết trong chiến tranh.
Trước hoàn cảnh khó khăn của Bình, ông Lành quyết định về quê bán những tài sản và tiền dành dụm bấy lâu nay để cùng chung sống với Bình như cha con, rồi mở rộng thêm diện tích.
Mô hình trang trại tiếp tục được đầu tư. Máy bơm nước đưa nước lên hồ trên đồi cao và nước theo đường ống chảy xuống các rãnh, luống hàng cây. Khoa học kĩ thuật được đưa vào sản xuất. Chỉ trong mấy tháng, rừng cây ăn trái của anh Bình xanh như rừng cây của Đà Lạt. Nhân công tới trang trại xin làm và được cha con ông Lành trả công rất đúng hạn.
Mô hình trang trại đầu tiên của thời bao cấp đã được Bình thể hiện thành công. Tiếng đồn vang xa. Bà con các nơi đến học tập tham quan và được anh chỉ dẫn, giúp giống và học tập kinh nghiệm.
Anh Bình được tỉnh chọn đi báo cáo điễn hình tiên tiến trong toàn quốc về nông dân sản xuất giỏi, về người khuyết tật vươn lên ….
Trong đợt gặp mặt các thế hệ công an của tỉnh, Bình gặp lại người bạn của Liên, tên là Kết, giờ là cán bộ khoa học nghiên cứu các loại giống cây trồng, ở miền Nam, vẫn sống độc thân. Khó tả được cảm xúc của những người ở cuộc chiến, lúc nào cũng cận kề với cái chết, giờ gặp lại nhau. Họ chỉ còn biết ôm nhau…Biết Bình có trang trại, Kết đùa:
- Bình có cần cán bộ kĩ thuật này giúp cho trang trại không?
- Bình cũng đùa lại:
- Mấy ai ở thành phố, về lại quê mùa.
Câu nói như chạm vào lòng tự trọng của những người vốn sinh ra và lớn lên ở vùng quê. Kết tiếp lời:
- Nếu em đăng kí về trang trại anh thì sao nào?
- Thì ok chứ sao!
Ánh mắt của Bình và Liên đã quá thời trai trẻ, hôm nay bỗng bừng nét e lệ, đáng yêu như thời tuổi đôi mươi.
Không ngờ, hai tuần sau, chốn thị thành, cuộc sống sung túc, công việc ổn định đã không níu kéo được Kết, cô đã có mặt ở trang trại của Bình. Tất cả những kĩ thuật, kinh nghiệm tích luỹ bấy lâu nay được Kết vận dụng và hết lòng giúp đỡ cha con Bình.
Trang trại giờ đây không chỉ ấm áp hẵn lên bởi có tiếng cười của phụ nữ chưa quá tuổi ngũ tuần mà còn hứa hẹn cho vụ mùa thu hoạch lớn, cho sự phát triển vững bền. Nơi đây, không chỉ trở thành nơi cung cấp giống cho bà con cả vùng mà còn đào tạo miễn phí cho những ai thích làm nghề trồng trọt.
Bà con đến đây ngày một đông, mua bán, học hỏi, tham quan, ngưỡng mộ người chiến sĩ công an tàn nhưng không phế. Họ không những ao ước làm được một phần như của anh Bình mà còn ao ước có được tiếng cười, hạnh phúc như ba cha con ông Lành…
Tháng 7-2010
Thứ Bảy, 31 tháng 7, 2010
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét