Thứ Hai, 11 tháng 1, 2010

Thơ là gì ?

Thơ là gì?
Đinh hà Triều
Có những hiện tượng rất quen thuộc, người ta nghe, nói hằng ngày nhưng khi phải đi tìm cho nó một định nghĩa chính xác thì thật không dễ. Trong lĩnh vực văn học, thơ là một loại hiện tượng như vậy. Chúng ta vẫn thường đọc thơ, ngâm thơ , học thơ , giảng thơ, đôi lúc làm thơ. Chúng ta cũng vẫn thường nói: “Tâm hồn con người ấy đẹp như thơ. Cuộc sống quanh ta rất giàu chất thơ”. Nhưng nếu ai hỏi chúng ta : “Vậy thơ là gì?” thì có lẽ nhiều người trong chúng ta thật sự lâm vào lúng túng.

Thơ là một loại tác phẩm văn học, là một hiện tượng phong phú, phức tạp, khó giải quyết một lần là xong, nói một lần là đủ. Đi tìm đặc trưng của thơ ở phạm vi đề tài hoặc nội dung thì rất khó vì không một lĩnh vực nào của đời sống mà không phải là đối tượng của thơ. Hoài Thanh khẳng định thơ “ ra đời giữa những vui buồn của loài người và nó sẽ kết bạn với loài người cho đến ngày tận thế” [18; 35]. Người ta thường xác định đặc trưng của thơ bằng cách phân ranh giới giữa thơ và văn xuôi. Sự phân biệt này cũng không phải không gặp tình trạng lúng túng. Bởi có văn xuôi giàu chất thơ và có cả thơ – văn xuôi. Hơn nữa, cũng là khác với văn xuôi, trong lịch sử văn học Việt Nam và thế giới còn có văn vần , văn biền ngẫu.v.v.. nhưng giữa văn vần và thơ vẫn có những khoảng cách.
Khoa thi pháp học đặt ra yêu cầu lí giải mới về đặc trưng của thơ. Tiếp thu thành tựu của các ngành khoa học hiện đại, thi pháp học thế kỉ XX đã đi tìm những đặc thù cơ bản của thơ ở góc độ tổ chức kết cấu trong văn bản ngôn từ. Mà thi pháp học lại là bộ môn khoa học rất gắn bó với kí hiệu học và ngôn ngữ học.
Thế nhưng chất thơ thực sự cũng không đồng nhất với văn bản ngôn từ - thơ vì trong thực tế vẫn luôn tồn tại một “ độ chênh” giữa kí hiệu ngôn ngữ và ý nghĩa của hình tượng văn học nói chung. Với thơ , điều này càng rõ rệt. Thơ không chỉ tạo hình, mà quan trọng hơn chính là biểu hiện. Biểu hiện là thế mạnh căn bản của thơ. Thơ là nghệ thuật biểu hiện. Khác với nghệ thuật tạo hình, đặc trưng nghệ thuật biểu hiện là ở chỗ nó không tạo ra những bức họa khách quan mà qua chất liệu của mình, nó biểu hiện những cảm nghĩ nhất định của con người, thể hiện nhận thức đánh giá của con người đối với cuộc sống. Vậy nghiên cứu về thơ không chỉ quan tâm đến các đặc trưng của văn bản ngôn từ (giàu nhạc điệu, giàu hình ảnh ) mà còn phải quan tâm đến cái tôi trữ tình của nhà thơ, đến yếu tố cảm xúc
Là giáo viên dạy ngữ- văn ở một trường trung học phổ thông, chúng tôi phải giúp học sinh tiếp nhận các tác phẩm thơ được quy định trong chương trình theo các yêu cầu của khoa học sư phạm. Vì vậy để giảng thơ tốt , không thể không đi tìm đặc trưng cơ bản của thơ để từ đó tiếp tục suy nghĩ để có một phương án giảng dạy phù hợp, hiệu quả nhất đối với loại tác phẩm này…
***
Thơ ra đời rất sớm trong lịch sử nhân loại. Thơ là một thể loại văn học hết sức quen thuộc và gần gũi với con người ở mọi thời đại, ở phương Đông cũng như ở phương Tây….Thế nhưng, khi ta đặt ra và trả lời câu hỏi thơ là gì thì câu hỏi này hoàn toàn không dễ trả lời. Khác với loại tác phẩm truyện, kí, kịch, thơ trực tiếp gắn với tâm hồn con người, mà tâm hồn con người là một thế giới tinh vi, phức tạp, mờ ảo nên thơ có thể dễ dàng cảm nhận bằng trực giác nhưng rất khó đúc kết, khái quát thành một định nghĩa thật sự hoàn chỉnh.
Từ xưa đến nay, ở tất cả mọi nền văn học, đã có nhiều đầu óc thông thái đưa ra những định nghĩa về thơ. Nhưng cho đến nay vẫn chưa có định nghĩa nào là duy nhất đúng.
Nhà lí luận phê bình văn học Lưu Hiệp quan niệm : “Thơ là để nói lên cái chí, lời ca là để làm cho lời nói được lâu dài. (…) Ở trong lòng thì gọi là chí, nói ra lời thì gọi là thơ” [25,76] , nhằm nhấn mạnh vào mục đích làm thơ. Khi bàn về Kinh Thi, một tuyển tập thơ ca dân gian cổ đại của Trung Quốc, Khổng Tử nhấn mạnh đến khả năng bồi đắp năng lực ngôn luận cho con người của thơ: “Không học Kinh Thi lấy gì để nói”. Ông đề cao tác dụng xã hội của thơ : “Thơ có thể làm phấn khởi ý chí, có thể giúp quan sát phong tục, hòa hợp với mọi người, bày tỏ nỗi sầu oán, gần thì thờ cha, xa thì thờ vua, lại biết được tên chim muông, cây cỏ”[26; 25].
Nhà thơ lớn thời Trung Đường Bạch Cư Dị quan niệm: “Cảm hóa nhân tâm thì không gì bằng tình cảm. Và không thể bắt đầu bằng cái gì khác ngôn ngữ. Không gì thân thiết bằng thanh âm. Không gì sâu sắc bằng tư tưởng. Gốc của thơ là tình cảm. Lá của thơ là ngôn ngữ. Hoa của thơ là thanh âm. Quả của thơ là tư tưởng”[26; 91]
Nhà thơ lãng mạn Pháp Đuy- bê- lây ( thế kỉ XIII) quan niệm “ Thơ là người thư kí trung thành của trái tim đa cảm”. Nhà thơ A. Đơ Vinhi nhấn mạnh “ Thơ là nhiệt tình được kết tinh lại”.
Nhà lí luận phê bình người Nga Biêlinxki (thế kỉ XIX) cho rằng: Thơ là nghệ thuật, là tài nghệ, là sáng tạo có tính chất nghệ sĩ, nghĩa là thơ rốt cuộc phải được sáng tạo trong ngôn từ [Dẫn theo 3; 227]
Học giả Lê Quý Đôn cho rằng “làm thơ có ba điều chính: một là tình , hai là cảnh, ba là sự .(…) Tình là người, cảnh là tự nhiên, sự là hợp nhất cả trời và đất. Lấy tình tham cảnh, lấy cảnh hội việc, gặp việc thì nói ra lời, thành tiếng” [27; 99]. Nhà thơ cách mạng Tố Hữu nhấn mạnh “ Thơ là tiếng lòng hồn nhiên nhất của tâm hồn con người trước cuộc đời, trước trời đất. Thơ là tiếng hát của tình cảm thiết tha mãnh liệt…Thơ chỉ tràn ra khi trong tim ta khi cuộc sống đã tràn đầy. Bài thơ hay là bài thơ làm cho người ta không còn cảm thấy câu thơ mà chỉ thấy tình người…Thơ là một điệu hồn đi tìm những tâm hồn đồng điệu”. Nhà thơ Xuân Diệu cũng chung cảm nghĩ ấy khi viết “Thơ là tiếng gọi đàn, là sự đồng thanh tương ứng , đồng khí tương cầu”
Chế Lan Viên chịu ảnh hưởng của Valêri khi cho rằng “Thơ là sự phân vân giữa nhạc và ý” [20 ;30]. Nhà văn Nguyễn Tuân quan niệm “…thơ là ảnh, là nhân ảnh , thơ cũng ở loại cụ thể hữu hình. Nhưng nó khác với cái cụ thể của văn. Cũng mọc lên từ cái đống tài liệu thực tế, nhưng từ một cái hữu hình nó thức dậy được những vô hình bao la, từ một điểm nhất định , nó mở được ra một cái diện không gian , thời gian trong đó nhịp mãi lên một tấm lòng sứ điệp…Thơ là mở ra được một cái gì mà trước câu thơ đó, trước nhà thơ đó vẫn như là bị phong kín”[25; 172].
Trong bài Tựa tự viết cho tập thơ của mình, nhà thơ Sóng Hồng đã đưa ra những định nghĩa rất sâu sắc và toàn diện về thơ : “Thơ tức là sự thể hiện con người và thời đại một cách cao đẹp”. Thơ là thơ đồng thời là vẽ là nhạc, là chạm khắc theo cách riêng “Thơ là nghệ thuật kì diệu bậc nhất của trí tưởng tượng”. Thơ là tình cảm và lí trí kết hơp một cách nhuần nhuyễn và có nghệ thuật. Tình cảm và lí trí ấy được diễn đạt bằng những hình tượng đẹp đẽ qua những lời thơ trong sáng vang lên một nhạc điệu khác thường” . “ Thơ là một viên ngọc kim cương long lanh dưới ánh sáng mặt trời”. ‘ Thơ cũng như nhạc có thể trở thành một sức mạnh phi thường khi nó chinh phục được trái tim của quần chúng nhân dân” [ chuyển dẫn theo 29; 43].
Nhà nghiên cứu Phan Ngọc góp vào lĩnh vực này một định nghĩa rất đáng chú ý “Thơ là một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và phải nghĩ cho chính hình thức ngôn ngữ này”[13; 6]
Theo Đỗ Đức Hiểu, xét về thi pháp, có thể đúc kết đặc trưng thơ thành một số đặc điểm chủ yếu:
- Kết cấu trùng điệp
- Kiến trúc đầy âm vang
- Chất nhạc tràn đầy
[ theo 14; 19]
Như vậy, có rất nhiều câu trả lời khác nhau cho câu hỏi thơ là gì tùy thuộc vào kinh nghiệm, tùy thuộc vào giác độ của từng nhà thơ, từng nhà nghiên cứu. Tuy khác nhau nhưng hầu hết các nhà thơ cũng như các nhà nghiên cứu phê bình đều thống nhất ở thơ có hai đặc điểm quan trọng sau đây:
· Thơ trực tiếp bộc lộ cảm xúc , nỗi lòng , suy nghĩ của tác giả: tức là khẳng định thơ thuộc phương thức trữ tình, đồng thời nhấn mạnh vai trò của cảm xúc và khả năng tạo nên sức đồng cảm mạnh mẽ đối với người đọc của thơ .
· Thơ có một hình thức tổ chức ngôn ngữ đặc biệt .
Có thể phát biểu một cách ngắn gọn: Thơ là một loại hình văn học tồn tại bên cạnh truyện và kịch, là hình thức sáng tác văn học nghiêng về thể hiện cảm xúc thông qua một tổ chức ngôn từ đặc biệt thành những câu văn vần giàu nhạc tính , giàu hình ảnh và gợi cảm

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét