Sự phản ảnh các phương diện văn hóa qua địa danh Phú Yên
Bùi Văn Thành
Mỗi một vùng đất đều gắn với những biểu hiện về văn hóa . Văn hóa không chỉ biểu hiện qua cách ứng xử hoặc qua những di sản vật thể hữu hình mà còn được biểu hiện trong một số địa hạt có tính chất trừu tượng , khó nhận biết qua các di sản vô hình và các phương diện của nó. Mỗi một vùng đất , một địa danh có những sinh hoạt cộng đồng khác nhau . Văn hóa của mỗi con người , mỗi vùng miền đều được tiềm ẩn bên trong và được thể hiện ra bên ngoài trên cả ba phương diện văn hóa chính, là phương diện văn hóa sinh hoạt , phương diện văn hóa sản xuất, và phương diện văn hóa vũ trang. Các phương diện văn hóa ấy được phản ảnh rõ nét trong địa danh Phú Yên
1.Sự phản ảnh phương diện văn hóa sinh hoạt
1.1 Phú Yên trước khi người Việt khai phá
Nhân dân tập trung sống ở 2 đồng bằng lớn Tuy An và Tuy Hòa gần con sông Cái và sông Ba với phương tiện giao thông là đường thủy .Đại Nam nhất thống chí của quốc sử quán triều Nguyễn viết về đạo Phú Yên “ xưa là đất Việt Thường thị , đời Tần thuộc Tượng Quận, đời Hán là Lâm Aáp, đời Tùy là quận Lâm Aáp, đời Tùy đổi thành Châu Lâm , sau bị Chiêm thành chiếm cứ , tức là đất bà Đài và Đà Lãng”[7,142} .Các địa danh trên được cấu tạo bằng các yếu tố không phải Hán Việt và thuần Việt là những chứng tích ghi lại dấu vết cư trú của người Chàm và người Việt cổ . Ngoài các từ trên, ta còn gặp những từ như : thành Hồ( Hòa Định ), La Hai ( một viên tướng tên La Hai trấn giữ thành lũy Chiêm Thành , ông còn có công cho quân lính khai khẩn vùng ruộng trong thung lũng , nên về sau còn gọi là đồng La Hai ). Gò Nổng thuộc thôn Long Bình , thị trấn La Hai , nơi đây đã phát hiện ra nhiều dấu tích gốm Sa Huỳnh và gốm Chăm , Gò Dầu thuộc thôn Long Thủy xã An Phú . Nơi đây đã phát hiện ra những mảnh gốm Sa Huỳnh cùng với một số mảnh gốm Chăm .Chùa Hồ Sơn ở làng Ninh Tịnh có nhiều dấu tích kiến trúc cổ Chăm Pa. Núi Một thôn Hội Cư –Hòa Tân Tây mọc trên một mỏm núi lớn là cả một bãi gạch Chăm xưa. Hòn Một ( Tuy An)nằm giữa cánh đồng làng Trung Lương theo kiểu kiến trúc của Chăm xưa. Tháp Nhạn thuộc phường1, thị xã Tuy Hòa đây là một công trình kiến trúc vào loại lớn của người Chăm, xây dựng vào thế X-XIII.Tháp Chăm Đông Tác là tháp lớn của người Chăm đối diện với tháp Nhạn . Đồng Miễu nằm cách thành Hồ 2 km về phía Tây ( thuộc xã Hòa định Đông) có nhiều dấu tích kiến trúc Chăm . Gò Dinh thuộc thôn Thạch Hội xã Sơn hà huyện Sơn Hòa trên bề mặt Gò dinh còn nhiều gạch Chăm . Gò Thành thuộc thôn Liên Thạnh xã Hòa Phú huyện Tuy Hòa, nơi đây đã phát hiện dấu tích một tòa thành cổ với nhiều gạch Chăm vỡ. Hòn Chùa xã An Chấn trên đỉnh có dấu tích một ngôi chùa cổ nhiều gạch Chăm .
1.2 Phú Yên sau khi người Việt khai phá
Năm 1611, khi phủ Phú Yên được thành lập, bấy giờ vua Chiêm Thành xâm lấn cảnh giới , Chúa ( Nguyễn Tiên , tức Nguyễn Hoàng) sai chủ sự là Văn Phong đem quân đánh lấy được, bèn đặt làm một phủ Đồng Xuân và Tuy Hòa . Cư dân ở đây chịu ảnh hưởng văn hóa Hán được phản ảnh trong địa danh bằng các từ Hán Việt như : Tuy Hòa , Đồng Xuân, Tuy An , Sơn Hòa, An Dân, An Ninh, An Nghiệp, An Hòa …, Hòa An, Hòa Thịnh, Hòa Bình, Hòa Thành, Hòa Định, Hòa Hiệp …. Các tên trên không chỉ biểu hiện cuộc sống an bình , giàu có của cư dân mà còn thể hiện nguyện vọng ước mơ đó . Các địa danh làng gắn với yếu tố chỉ sông và các đối tượng có tính chất gần với sông có ý nghĩa chỉ sông với sự phản ảnh thực các làng xã đã tồn tại vị trí ven sông, nằm cạnh các khe nước. Theo nhà nghiên cứu Trần Huyền Âân : “ Việc đặt tên tổng làng …cũng có những thay đổi. Ban đầu mỗi huyện có 3 tổng và 1 thuộc, đặt tên giống nhau là tổng Hạ, tổng Trung, tổng Thượng,và thuộc Hà Bạc ( ở vùng ven biển cửa sông), {7,16} như Hà Bằng(Xuân Sơn), Sơn Hà ( Sơn Hòa), Sơn Giang ( Sông Hinh)Phú Giang ( Xuân Quang),xã Hội Giang ( Tuy An) Nhiễu Giang( Đức Thành),Suối Mây( An Thọ), Suối Trai ( Sơn Bình ) Suối Bạc ( Sơn Phước)Suối Phèn (Sơn Phước) ,Phước Giang, Hà Yến ( An Thạch) Thanh Giang ( An Hải ) ( hoặc gần biển như Đa Ngư ( Hòa Hiệp ), Long Thủy ( An Phú), Long Hải ( Xuân Phương ), An Hải ( Tuy An), Xuân Hải (Sông Cầu) , gần núi như Hảo Sơn ( Hòa Xuân) Kim Sơn (An Thọ), Lam Sơn ( An Thọ), Phong Cao( Sơn Long), Xuân Sơn (Sơn Xuân)…Phú yên có 3 huyện miền núi phần lớn là người dân tộc ÊĐê( 16.416 người )â , Chăm( 16.294 người ) , Ba Na( 3.464người )- (thống kê năm 2000 ) . Nêu tên làng xã cũng mang tiếng của người dân tộc như Cà Lúi, Suối Trai, Ea Chà Rang, Krông Pa, ( huyện Sơn Hòa), Eatrôl, Eabar, Eabá, Ealâm, thị trấn Hai Riêng, và xã Eabia( huyện sông Hinh). Tóm lại, nhìn chung về phương diện văn hóa của người Phú Yên được thể hiện qua qua cách chọn vị trí thuận lợi cho việc làm ăn, buôn bán và đi lại để lập làng phù hợp với việc làm ăn sinh sống với nghề trồng lúa nước hoặc nghề biển, hay nghề rừng .
2.Sự phản ảnh văn hóa sản xuất
2.1 Địa danh gắn cây trồng
Về lĩnh vực văn hóa sinh hoạt được thể hiện qua những địa danh thuộc loại hình thiên nhiên có chứa các yếu tố gắn với các loại cây trồng. Đây cũng chính là dấu hiệu của nền văn minh lúa nước được thể trong các địa danh ở Phú Yên như : đèo Vườn Xoài (An Dân), đèo Quán Cau ( An Hiệp ), Suối Mít (Sơn Định – Sơn Hòa ), bãi Chuối ( An Hải), , Đồng Cọ(Hòa Thịnh), Gò Dưa thôn Xuân Thạnh xã Hòa Tân.
2.2 Địa danh gắn làng nghề
Địa danh gắn với nghề như Xóm Câu ( An Chấn), Làng Ruộng (Xuân Quang), Xóm Chiếu ( Phường 6-Tuy Hòa), Phường Lụa ( Tuy An), Làng muối Tuyết Diêm ( Sông Cầu ) Hiện nay, mô hình làng ở Phú Yên không còn là mô hình khép kín với nghề truyền thống trồng lúa , canh tác nông nghiệp mà nó được mở ra cùng với sự phát triển của xã hội gắn với các nghề mới như nước mắm Gành Đỏ , muối Sông Cầu , bánh tráng Hòa Đa, Dưa Phường 5 Tuy Hòa ….
3.Sự phản ảnh phương diện văn hóa vũ trang
3.1 Chiến tranh Việt – Chiêm
Phú Yên là vùng đất gắn với những biến cố lịch sử quan trọng. Mỗi biến cố lịch sử đều có dấu ấn của địa danh . Đó là thời kì giao tranh giữa Việt và Chiêm Thành,thời kì chiến tranh phong kiến , thời kì chống Pháp và Mĩ . Bước sang đời Lê, vương quốc Chiêm Thành lại tiếp tục lấn chiếm đất đai nước Đại Việt . Trong thời Vua Lê Thánh Tông trị vì , thời kì cực thịnh của chế độ phong kiến Việt Nam , vua Chiêm là Bàn La Trà Toàn , một mặt cầu viện triều đình nhà Minh, một mặt đem 10 vạn quân đánh úp Thuận Hóa năm 1469. Lần này, vua Lê Thánh Tông chuẩn bị một cuộc viễn chinh trừng phạt đại qui mô, quyết làm cho vương quốc Chiêm Thành bị kiệt quệ . Ngày 16-11-1470 ( Canh Dần, Hồng Đức năm thứ 1), vua Lê Thánh Tông thống lĩnh 26 vạn quân thủy bộ , tiến binh chinh phạt Chiêm Thành. Quân Đại Việt đánh tan quân Chiêm , phá thành Chà Bàn( Qui Nhơn) chiếm lĩnh đế đô của vương quốc Cham pa bắt sống Trà Toàn . Thừa thắng , quân Đại Việt vượt đèo Cù Mông tiến thẳng tới đèo Cả. Tương truyền vua Lê Thánh Tông có sai khắc bia trên núi để ghi dấu tích chiến công phân định dấu tích giữa hai nước Việt – Chiêm và sự tích ấy mà ngọn núi được mang tên Thạch Bi Sơn ( Núi Đá Bia ) {2,30} . Thành Hồ là dấu tích của chiến tranh Việt –Chiêm với cuộc giao tranh ác liệt giữa Lương Văn Chánh và quân Chiêm .
3.2 Chiến tranh thời phong kiến
Phú Yên còn có dấu tích của thế lực xâm chiếm phương Bắc , phía tây đầm Ô Loan là những quả đồi nhỏ nằm sát nhau . Phía đông là mả Cao Biền . Dân gian cho rằng trên đường đi yếm hại nhân tài nước Nam , Cao Biền đã bị trời chôn tại đây : Cao Biền chết tại Đồng Môn/Trên sơn dưới thủy , trời chôn Cao Biền . Phú Yên còn là nơi chứng kiến cuộc giao tranh giữa quân Tây Sơn và Nguyễn Ánh . Lao Hòn Nần ở trong đầm Cù Mông đối diện với đèo Vận Lương là một chứng tích lịch sử . Người ta kể lại rằng, trong khi chống nhau với quân Tây Sơn , một hôm Nguyễn Ánh bị thua , mang tàng quân theo đường biển chạy vào ẩn nấp nơi hòn cù lao này . Bị tuyệt lương , Nguyễn Vương và quân sĩ tưởng đã phải chết đói cả. May sao tìm thấy trên đảo một thứ củ ăn được mà dân chúng địa phương gọi là củ nần, nên qua khỏi nạn đói .Nhưng rồi Vương và quân lính không tránh khỏi một trận tấn công của quân Tây Sơn , khiến một số quân sĩ tử trận . Sau khi thắng được Tây Sơn , lên ngôi hoàng đế, vua Gia Long bèn cho xây 55 ngôi mộbằng vôi trên đảo, và lập các ngôi miếu thờ các vị tử trận ấy. Từ đó ,hòn cù lao này được gọi là hòn Nần.
3.3 Chiến tranh thời chống Pháp , chống Mỹ.
Phú Yên còn có dấu tích lịch sử của cuộc chiến tranh chống Pháp . Đồn Trà Kê được thành lập do Nghị định của Toàn quyền Đông Dương trước năm 1940, thuộc thôn Sơn Hội, xã Sơn Hội , nhằm kiểm soát vùng núi Phú yên . Tại đây thực dân Pháp xây dựng nhà tù Trà Kê để giam giữ các chính trị phạm và những người yêu nước. Ngân Sơn – Chí Thạnh vào tháng 9-1954 , địch đã gây ra vụ thảm sát giết chết 64 người và làm 76 người bị thương . Đây là một trong những vụ đàn áp và khủng bố điển hình sau ngày hiệp định Giơnevơ được kí kết . Mũi Điện (trước kia cịn gọi là mũi Kê Gà) nằm trên triền núi Hịn Bà, do viên sĩ quan hải quân người Pháp phát hiện ra mỏm núi này đầu tiên, vào cuối thế kỷ XIX trong chuyến khảo sát hải hành ở vùng biển Đơng Nam Á .Vì tính chất quan trọng của nĩ trên đường giao thơng biển, nên được mang tên ơng là Varella, nay thuộc xã Hồ Tâm, huyện Đơng Hồ. Từ năm 1890, người Pháp đã cho xây dựng ngọn hải đăng tại đây và mũi Đại Lãnh từ đĩ cĩ thêm tên gọi mới là mũi Điện, Địa đạo gò Thì Thùng thuộc xã An Xuân huyện Tuy An được khởi công xây dựng từ tháng 4 năm 1965, đến tháng 5 năm 1965 hoàn thành . Địa đạo nằm sâu dưới lòng đất khoảng 4,5m, rộng 0,8m, cao1,6m dài gần 2 km, có nhiều lỗ thông hơi . Xung quanh địa đạo có hào giao thông dài trên 10km. Nơi đây từng chứng kiến những trận đánh ác liệt giữa quân ta và Mĩ – Ngụy . Vũng Rô ở Hòa Xuân Nam huyện Tuy Hòa, từ năm 1964 đến đầu năm 1965, vũng Rô đã tiếp nhận 4 chiếc tàu không số từ miền Bắc chở vũ khí, đạn dược cung cấp cho chiến trường Phú Yên, Cao Nguyên và Nam Trung Bộ. Xã Hòa Thịnh gắn với sự kiện lịch sử Đồng Khởi vào đêm 22-12-1960 nhân dân đã đồng khởi, nổi dậy xóa bỏ chính quyền ngụy, thành lập chính quyền cách mạng. Đường số 5 từ thị trấn Phú Lâm đi sông Hinh . Năm 1975, trong cuộc rút lui chiến lược của địch từ Tây Nguyên xuống đồng bằng, các lực lượng vũ trang Tuy Hòa biến cuộc rút lui của ngụy thành cuộc tháo chạy tán loạn, góp phần đáng kể vào việc giải phóng Phú Yên và hoàn toàn miền Nam . Với chiến công đó, đường 5 được Bộ văn hóa Thông tin ra quyết định công nhận là di tích cấp quốc gia . Trong địa chí Phú Yên viết : “hầu hết các hang, gộp, hốc đều gắn với cuộc kháng chiến chống Mỹ, có nơi là chỗ đóng quân, có nơi là bệnh viện của cách mạng {7,41} như ở huyện Tuy Hòa có các gộp bãi Xép, hốc Gạo , hóc Nhum … Thị xã Tuy Hòa có hang Trai Thủy( tục gọi là hang dơi )gộp Đá Bàn. Huyện Tuy An có hốc Bé, hốc Tạ. Huyện Sông Cầu có hốc Bà Beo, gộp Hòa Lợi . Huyện Đồng Xuân có hốc Bà Chiền. Huyện Sơn Hòa có hang Thuồng Luồng, gộp Ma Tửu. Huyện sông Hinh có hang Cồ. Tóm lại, các địa danh trên mang dấu ấn lịch sử, đều phản ảnh văn hóa vũ trang trong quá trình giữ nước ở từng thời kì khác nhau . Tuy nhiên , trong mỗi thời kì, mỗi chế độ , các địa danh cũng có những sự thay đổi khác nhau .
3.4 Sự thay đổi địa danh
Năm Minh Mạng thứ bảy ( Bính Tuất 1826) đổi làm Phú Yên phủ nha. Năm Minh Mạng thứ 12 lại đổi làm Tuy An phủ, qua năm sau, Minh Mạng thứ13 , Phú Yên được đặt thành một tỉnh dưới quyền cai trị của quan Tổng đốc Bình Phú ( Bình Định và Phú Yên) đóng tại Bình Định . Đến đời Thành Thái, Phú Yên được đổi làm tỉnh, huyện Tuy Hòa được đổi làm phủ Tuy Hòa.Năm Ất Dậu ( 1945), sau cuộc đảo chính Nhật , tỉnh Phú Yên lại bị đặt dưới ách thống trị của phát xít Nhật . Đến tháng 8 năm ấy , sau cuộc khởi nghĩa thành công, tỉnh Phú Yên lại đặt dưới chế độ Ủy Ban Hành Chính của chính quyền Việt Minh, các phủ bị bỏ làm huyện, nhiều thôn làng hợp lại thành đại xã, và sau cuộc kháng chiến bùng nổ, tỉnh Phú Yên được cùng 3 tỉnh Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam hợp lại ,gọi là Liên khu 5. Đến năm 1954, sau hiệp định Geneve, chính quyền quốc gia tiếp thu tỉnh Phú Yên,bỏ chế độ ủy ban , thay thế bằng bộ máy hành chính quốc gia , đứng đầu có vị tỉnh trưởng , đổi các huyện thành quận, tách 4 liên xã của huyện Đồng Xuân lập thành nha Đại diện hành chính Sông Cầu , và năm 1957, sát nhập thêm xã Xuân Thọ , đổi thành quận Sông Cầu . Tháng 3 năm 1959, do sắc lệnh của Tổng thốngViệt Nam Cộng Hòa, một phần đất phía Đông Nam quận Cheo Reo thuộc tỉnh Pleiku, một phần đất tổng Dleiya( quận buôn Hồ), hai tổng Ea Bar Krong Pa ( quận M` Drack) thuộc tỉnh Darlac được sát nhập vào tỉnh Phú Yên, hợp với xã Sơn Thành và một phần xã Sơn Bình thuộc quận Sơn Hòa, thành lập quận mới là quận Phú Đức, quận lỵ đóng tại Phú Bổn . Đến tháng 5 năm ấy, một phần đất của tổng IaPiao thuộc quận Cheo Leo được sát nhập vào quận Đồng Xuân, 9 xã thuộc quận ấy được sát nhập vào quận Sơn Hòa . Lại do nghị định số 723NV ngày 12-7-1962 của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa , 7 xã phía Tây quận Tuy Hòa được tách ra để thành lập một quận mới gọi là Hiếu Xương, quận lỵ đóng tại Mỹ Thạnh thuộc xã Hòa Phong. Đến tháng 9 năm 1962, do sắc lệnh số 186NV của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa, tỉnh Phú Bổn, một tỉnh mới ở vùng Cao Nguyên được thành lập .Đến tháng 12 năm 1963, lại do nghị định số 304 TTPĐUHC của Thủ Tướng chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, bốn xã của quận Tuy Hòa ( Hòa Thành, Hòa Hiệp, Hòa Vinh, Hòa Xuân) được cắt và sát nhập vào quận Hiếu Xương. Như vậy , các xã nằm ở phía hữu ngạn sông Đà Rằng hoàn toàn thuộc về quận Hiếu Xương, quận lỵ đặt tại thôn Phú Lâm, nơi lỵ sở cũ của quận Tuy Hòa . Cũng do nghị định trên, hai xã An Thọ và An Chấn, nguyên của quận Tuy An được sát nhập vào quận Tuy Hòa đặt tại thôn Phước Hậu xã Hòa Kiến gần chân núi Chóp Chài . Cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc , chính quyền cách mạng được thành lập . Để phù hợp với điều kiện quản lí và phát triển kinh tế xã hội , bảo đảm an ninh quốc phòng, về mặt địa lí hành chính có những thay đổi sau : Huyện miền Tây , Tây Nam Sơn Hòa nhập thành huyện mới lấy tên là Tây Hòa . Quận Hiếu Xương đổi thành quận Tuy Hòa Tháng 2-1976, tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa nhập thành tỉnh Phú Khánh, tỉnh lỵ đặt tại Nha Trang.Ngày 10-3-1977, quyết định số 49/CP của hội đồng chính phủ, huyện Tuy An và Đồng Xuân nhập thành huyện Xuân An , hợp nhất huyện Tuy Hòa và thị xã Tuy Hòa thành huyện Tuy Hòa . Năm 1978, lại chia huyện Tuy Hòa thành hai đơn vị hành chính là huyện Tuy Hòa và thị xã Tuy Hòa, chia huyện Xuân An thành hai huyện Tuy An và Đồng Xuân . Năm 1984 chia huyện Tây Sơn thành huyện Sông Hinh và huyện Sơn Hòa . Năm 1985 chia huyện Đồng Xuân thành hai huyện Đồng Xuân và Sông Cầu . Ngày 30 tháng 6-1989, tỉnh Phú Khánh được tách thành hai đơn vị hành chính là tỉnh Phú Yên và tỉnh Khánh Hòa . Nghị định số 15/CP của Thủ tướng Chính phủ, ngày 30-01-2002 chia thị xã Tuy Hòa thành hai đơn vị hành chính, lấy tên là thị xã Tuy Hòa và huyện Phú Hòa . Thành phố Tuy Hòa mở rộng sát nhập An Phú ( Tuy An ) , Phú Lâm ( Tuy Hòa . Năm 2006, tách huyện Tuy Hòa thành huyện Đông Hòa và huyện Tây Hòa . Đến nay, Phú Yên có 8 huyện và 1 thành phố với 101 phường xã và thị trấn .
Tóm lại ,nếu văn hóa một cộng đồng dân cư trong sự gắn bó với lịch sử đều được thể hiện qua phương diện văn hóa trên, thì địa danh Phú Yên cũng thể hiện rõ điều đó . Chúng có sự cộng hưởng với nhau, tạo nên một hệ thống địa danh mang màu sắc văn hóa dân tộc và có khả năng phản ảnh những ước mong về sự toàn diện, hoàn mĩ, hướng thiện mà con người gởi gắm nơi vùng đất của mình . Chúng tôi thống nhất với ý kiến của Từ Thu Mai “áp lực và ảnh hưởng của văn hóa người Việt mang tính thống nhất và có sự phân bố đồng đều trên mọi phương diện của cuộc sống và văn hóa .{2,72}
Tài liệu tham khảo
1. Trần HuiềnÂn, Phú Yên ,Miền đất ước vọng, NXBtrẻ 2004
Tài liệu tham khảo
1. Trần HuiềnÂn, Phú Yên ,Miền đất ước vọng, NXBtrẻ 2004
2. Từ Thu Mai, Sự phản ảnh các phương diện văn hóa trong địa danh Quảng Trị, Tạp chí Ngôn ngữ số 12 năm 2003.
3. Sở khoa học – công nghệ – Môi trường Phú Yên, Ca dao dân ca trên vùng đất Phú Yên , năm 1996.
4. Hoàng Tất Thắng, Địa danh ở Đà Nẵng từ cách tiếp cận ngôn ngữ học, tạp chí Ngôn ngữ số 2,năm 2003
5. Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hóa Việt Nam
6. Nguyễn Đình Tư, Non nước Phú Yên , NXB Thanh niên, 2003
7. Ủy ban nhân tỉnh Phú Yên, Địa chí Phú Yên, nhà xuất bản chính trị quốc gia, 2003.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét